Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

26 CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH



26 CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Bác Hồ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 và mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Bác đã trở thành một vĩ nhân, một huyền thoại bất tử trong lòng mỗi người dân Việt Nam.
Những câu nói nổi tiếng của Bác rất nhiều.
Dưới đây là những câu nói nổi tiếng nhất của Bác trong suốt cả cuộc đời hi sinh vì cách mạng dân tộc và vẫn còn nguyên vẹn giá trị cho đến ngày hôm nay.
Các bạn đọc hãy cùng tìm hiểu về sự sâu sắc trong từng lời dạy của Bác dưới đây nhé!
1. "Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu" - Hồ Chí Minh
2. "Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể" - Hồ Chí Minh
3. "Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được" - Hồ CHí Minh
4. "Chính lòng yêu nước, chứ không phải lý tưởng cộng sản, là nguồn cảm hứng cho tôi" - Hồ Chí Minh
5. "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - Hồ Chí Minh
6. "Các ông giết 10 người của chúng tôi, chúng tôi giết 1 người của ông, nhưng cuối cùng các ông sẽ là người kiệt sức" - Hồ Chí Minh
7. "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang" - Hồ Chí Minh
8. "Trẻ em như búp trên cành; biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan" - Hồ Chí Minh
9. "Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn ? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?" - Hồ Chí Minh
10. "Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm" - Hồ Chí Minh
11. "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" - Hồ Chí Minh
12. "Việc gì, dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng lại thành lợi to" - Hồ Chí Minh
13. "Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân" - Hồ Chí Minh
14. "Chúng ta phải nhớ rằng: người tài ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn. Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển" - Hồ Chí Minh
15. "Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắc sẽ vẻ vang" - Hồ Chí Minh
16. "Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ làm cho chúng trở nên già cả" - Hồ Chí Minh
17. "Chữ "người", nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ" - Hồ Chí Minh
18. "Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?" 
19. "Chúng ta phải học, phải cố gắng học nhiều. Không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình..." - Hồ Chí Minh
20. "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
21. "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
22. "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn" - Hồ Chí Minh.
23. "Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi... Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ. Hao phí vật liệu, là xa xỉ. Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ. Vì vậy xa xỉ là có tội với tổ quốc, với đồng bào" - Hồ Chí Minh
24. "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" - Hồ Chí Minh ngày nay
25. "Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
26. "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ nơi có non xanh, nước biếc để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc: là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" - Hồ Chí Minh
Sưu tầm và biên tập: Nguyễn Huy Phương


Bác Hồ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 và mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Bác đã trở thành một vĩ nhân, một huyền thoại bất tử trong lòng mỗi người dân Việt Nam và mỗi khi nhớ đến chủ tịch Hồ Chí Minh người dân Việt Nam lại gọi Bác với những cái tên đầy âu yếm cũng như sự kính trọng và biết ơn vô ngàn như "Cụ Hồ, Hồ Chủ tịch, người cha già dân tộc". Dưới đây là những câu nói nổi tiếng nhất của Bác trong suốt cả cuộc đời hi sinh vì cách mạng dân tộc và vẫn còn nguyên vẹn giá trị cho đến ngày hôm nay.
Các bạn đọc hãy cùng tìm hiểu về sự sâu sắc trong từng lời dạy của Bác dưới đây nhé!
1. "Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
2. "Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
3. "Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được" - Hồ CHí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
4. "Chính lòng yêu nước, chứ không phải lý tưởng cộng sản, là nguồn cảm hứng cho tôi" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
5. "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
6. "Các ông giết 10 người của chúng tôi, chúng tôi giết 1 người của ông, nhưng cuối cùng các ông sẽ là người kiệt sức" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay


7. "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
8. "Trẻ em như búp trên cành; biết ăn ngủ,
biết học hành là ngoan" -26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
9. "Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn ? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
10. "Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
11. "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
12. "Việc gì, dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng lại thành lợi to" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
13. "Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
14. "Chúng ta phải nhớ rằng: người tài ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn. Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
15. "Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắc sẽ vẻ vang" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
16. "Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ làm cho chúng trở nên già cả" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
17. "Chữ "người", nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
18. "Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
19. "Chúng ta phải học, phải cố gắng học nhiều. Không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình..." - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
20. "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
21. "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" -

26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
22. "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn" - Hồ Chí Minh
26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
23. "Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi... Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ. Hao phí vật liệu, là xa xỉ. Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ. Vì vậy xa xỉ là có tội với tổ quốc, với đồng bào" - Hồ Chí Minh
26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
24. "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
25. "Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
26. "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ nơi có non xanh, nước biếc để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc: là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" - Hồ Chí Minh26 câu nói nổi tiếng nhất của Bác Hồ vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
Sưu tầm và biên tập: Nguyễn Huy Phương

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

RƯỢU ,TÌNH VÀ THƠ

RƯỢU VÀ THƠ
Chữ TỬU  trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
“Truyện Kiều” từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển ưu tú trong lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rất rộng rãi trong nhân dân. Dưới rất nhiều hình thức, như: lẩy Kiều, tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều… Gần 200 năm từ “Truyện Kiều” ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để bàn tới nó. Nói chuyện “văn nghệ giữa đời thường”, chúng tôi xin phiếm đàm đôi nét về THI – TỬU trong “Truyện Kiều”- Vốn là một đề tài từ trước tới nay hình như rất ít người đề cập.
Cầm, kỳ, thi, tửu xưa nay, vốn là một thú tiêu khiển hào hoa của các bậc tao nhân mặc khách. Nguyễn Du mượn hình tượng Vương Thúy Kiều để giải bày tâm sự của mình.
Cứ như Nguyễn Du miêu tả, thì Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có thể làm xiêu thành đổ quách; nhưng dường như trong số kiếp đã ẩn sẵn “một thiên bạc mệnh”. Chính vì vậy, khi tình yêu giữa nàng và chàng Kim mới vừa chớm nở, họ đã lập tức thành tâm giao tâm đắc, tri kỷ tri âm, cùng vịnh thơ với nhau, nâng bầu mời rượu với nhau. Ưu ái cho tình yêu của đôi trai tài gái sắc, chỉ trong một ngày, Nguyễn Du đã phóng tay, để cho họ được tới hai lần uống rượu với nhau.
Lần thứ nhất vào ban ngày. Nhân cha mẹ và hai em về dự sinh nhật bên ngoại, Thúy Kiều đã tìm đến tận thư phòng của Kim Trọng để tình tự. Kiều vẽ tranh Đạm Thanh. Chàng Kim thảo vài câu thơ vào tranh ấy. Rồi hai người chuốc rượu mời nhau. Xét theo quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân”, việc chỉ có hai người với nhau trong thư phòng vắng vẻ, đã là một điều cấm kỵ; đằng này, cụ Nguyễn còn giải phóng cho họ nâng ly mời nhau, thì… cụ Nguyễn qủa là người đi tiên phong đầu tiên trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ.
Phải chăng đây là lần đầu Kiều uống rượu:
Đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
“Trung khúc” là khúc lòng thầm kín. “Đủ điều trung khúc ân cần” là hai người nói với nhau rất nhiều về nỗi niềm thầm kín của lứa đôi. Đã vậy lại còn thêm chén rượu nồng đưa đẩy, đến mức “lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng”. “Chén xuân” là chén rượu tỏ tình yêu. Càng uống càng thấy “lòng xuân” tràn đầy tình yêu “phơi phới”, đến mức đã “tàng tàng” với nhau, tức cả hai đều đã ngà ngà vì nhau và vì rượu. Không biết cuộc hàn huyên bắt đầu từ bao giờ. Nhưng chắc chắn là nó đã kéo dài tới mức cả hai đều quên cả thời khắc, nên mới giật mình nhận thấy: “Trông ra ác đã ngậm sương non đoài”.
Uống như vậy gọi là uống rượu tình trong buổi đầu bày tỏ. Chỉ có hai người thôi. Cụ Nguyễn thật là khéo. Vậy mà nào đã thôi đâu. Liền đó, cụ Nguyễn đã mạnh bạo đi thêm nước cờ thứ hai, mà tôi dám đoan chắc rằng, toàn bộ giai cấp thống trị phong kiến, và những nhà hũ nho phong kiến, nhất định sẽ phải dãy nãy lên mà la làng. Vì cụ Nguyễn đã cách tân qúa thể, khi cụ dám để Thúy Kiều ngay trong đêm hôm đó, khi vừa mới chia tay trở về,  đã lập tức quay ngay trở lại, bằng cách “xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình”. Qủa là táo bạo tới không tưởng nổi. Thân gái đêm hôm, dám một mình xăm xăm đi tắt tới nhà trai. Vào thời ấy, hẳn chỉ có Nguyễn Du mới dám viết như vậy. 
Và cuộc rượu ái tình lần này mới thật là đáng nhớ. Thơ Nguyễn Du dành cho họ, cứ như chảy tràn ra từ đáy cốc; lóng lánh ngời lên tình yêu đôi lứa.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.

Qủa là phong lưu, phong vận, tao nhã và đài các. Không gian hẹp, không gian rộng đều tuyệt cả. Trong phòng thì lửa nến, hương trầm; ngoài trời thì vầng trăng vằng vặc. Không gian ấy, thời gian ấy, cảnh ấy… sinh tình xiết bao. Họ không chỉ nói với nhau lời vàng đá, mà còn thảo ra lời vàng đá, rồi cùng nhau thề thốt đinh ninh “hai mặt một lời” với bầu xanh cao vòi vọi.
Lần đầu gặp nhau “trong tiết tháng ba”, “Vương Quan quen mặt ra chào”, còn “hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”, ấy vậy mà Kim, Kiều đã đem lòng tương tư. Lần thứ hai gặp nhau nâng chén, hai bên đã lập tức bày tỏ nỗi niềm thầm kín trắc ẩn. Còn lần này thì họ đã vượt lên trên tất cả lệ luật của đạo giáo và của thời đại. Họ tự  xe duyên bằng “tóc tơ căn vặn tấc lòng, trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Họ đâu cần ông tơ bà nguyệt. Chất “anh hùng ca” của tình yêu tự “giải phóng” là ở chỗ đó. Thúy Kiều đâu phải là cô gái “ngoan thảo” chịu chấp nhận “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Thúy Kiều là hiện thân của tư tưởng tự giải phóng khỏi ràng buộc lễ nghi phong kiến. Đó chính là tư tưởng của Nguyễn Du, tình yêu của Nguyễn Du, đối với một tầng lớp nhân dân bị đè nén và ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến, đạo giáo phong kiến, và lề luật phong kiến, tới mức thống khổ.
Nếu như “tiên tửu” là một cách uống đẹp, thì cuộc rượu “tiên thề” của chàng Kim và nàng Thúy cũng là một cách uống đẹp(tôi gọi là “tình tửu” hay “Đôi lứa tửu”- T.G.).
“Chén hà” là chén ngọc nhuốm ráng chiều, rực lên. “Quỳnh tương” là rượu qúy. Chén qúy không thể rót rượu xoàng. Rượu qúy không thể uống chén xoàng. Chén và rượu phải “sánh giọng” với nhau. “Dải là hương lộn” là những dải lụa ở trong thư phòng đều có tẩm mùi trầm hương bay lộn lên mà thấm vào. “Bình gương bóng lồng”.  “Bình” là bức bình phong trong thư phòng. “Gương” là tấm gương soi gắn trên bình phong. “Bình gương bóng lồng” là bóng hai người lồng vào nhau trong tấm gương soi trên bức bình phong. Thiết nghĩ, chỉ với hai câu lục bát, thì không thể nào còn có thể tả hay hơn và đẹp hơn về cảnh đôi lứa nâng ly thề nguyền được nữa!
Đối với thân phận nàng Kiều, ngay từ đầu tập truyện thơ của mình, Nguyễn Du đã khéo vẽ ra cảnh Thúy Kiều gặp hồn ma Đạm Tiên, lúc cùng hai em đi tảo mộ. Trong đoạn này, Nguyễn Du đã qua khóe miệng của nàng Kiều, thốt nên hai câu thơ  nhức nhối nỗi buồn truyền Kiếp: Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!

Nhưng Nguyễn Du không dừng ở đó. Tư tưởng quán xuyến của “Truyện Kiều” là “hồng nhan bạc mệnh”. Ngay từ những dòng đầu tiên của thiên tiểu thuyết bằng thơ này, Nguyễn Du đã viết:Lạ gì bỉ sắc tư phong, trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Tài thơ của cụ Nguyễn đã khéo vẽ ra cảnh nàng Thúy nằm mộng gặp Đạm Tiên, nhờ đó biết được mình có tên trong sổ đoạn trường. Bởi vậy, ngay sau tiệc rượu thề nguyền lời vàng đá với chàng Kim, Thúy Kiều đã lâm ngay vào cảnh phải bán mình chuộc cha, phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Trong lần khoác áo thanh lâu thứ nhất, Nguyễn Du đã mượn rượu để nói về thân phận “kiếp người đã đến thế này thì thôi” của nàng Thúy.

Lầu xanh mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Bút pháp tài hoa của Nguyễn Du sắc như dao cứa vào lòng người. Một đời tài hoa là thế, hồng nhan là thế, mà nay đã lâm vào cảnh “thương thay thân phận lạc loài, dẫu sao cũng ở tay người biết sao”. Thân phận “bầm dập tửu” của Thúy Kiều kéo dài triền miên suốt ngày suốt đêm. Toàn là khách làng chơi đến vùi hoa dập liễu, có ai hiểu cho nàng. Chỉ Thúy Kiều là tự thương lấy phận mình mà thôi. “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa”. Hết ngày dài tới đêm thâu, Thúy Kiều bị dìm trong từng từng trận rượu. Ấy là “ô nhục tửu”. Chỉ một câu lục bát mà cụ Nguyễn nhắc tới ba lần chữ “mình”. Chua cay lắm! Bầm dập lắm! May cho nàng, nhờ được treo “giá ngọc” mà gặp các khách làng chơi toàn là những hạng văn nhân, tài tử như Tống Ngọc nước Sở đời chiến quốc, Trường Khanh(Tư Mã Tương Như) đời Hán, không bị vùi dập bởi những hạng khách tầm thường. Nhưng… nhưng chỉ mình mới biết thương mình mà thôi. Năm xưa nâng chén cùng chàng Kim, Thúy Kiều đã vẽ tranh, đã đánh đàn, đã dậy sóng ái ân mà cất lời thề nguyện trăm năm. Dâng hiến là “cỗi phúc” linh thiêng của ái tình. Nhưng lúc đó, Thúy Kiều vẫn tỉnh táo mà nhớ tới luân lý, rằng mình là gái chưa thành thân.
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.
Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi,
“Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!
Ngày ấy, ngày chia tay ấy, Thúy Kiều còn nhớ đinh ninh như mới vừa xẫy ra hôm qua. Lời chàng Kim vẫn như còn văng vẳng: “Gìn vàng giữ ngọc cho hay, cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.”Lúc ấy, nàng đã “ruột rối bời bời” mà giãi lời với chàng như sau:“Đã nguyền hai chữ đồng tâm, trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai”.
Vậy mà hôm nay… Chìm trong “ô nhục tửu”, Thúy Kiều đã phải khóc nấc lên tiếng than thân xé dạ:
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Chữ “tửu” ẩn đi ấy trong đoạn thơ, đắng như nước mắt ê chề, cháy như lửa thiêu một cuộc đời ê ẩm.
Lấy cảnh tả tình là thuật pháp xưa nay của thơ của văn. Còn mượn tửu tả tình như cụ Nguyễn, qủa là không còn có thể viết hay hơn được nữa!

ĐỌC KIỀU 
Truyện Kiều đọc ở trong thơ
Đọc xong mà vẫn còn ngờ là chưa
Mỗi lần đọc lại như mơ
Mỗi câu mỗi chữ nhả tơ tâm tình
Mỗi lời như buộc vào mình
Mỗi người mỗi cảnh mỗi tình trong ta
Khi vui càng thấy thiết tha
Khi buồn lại thấy xót xa bội phần
Với Kiều kể hết xa gần
Như người trong cuộc tình thân bạn bè
Vui buồn hãy kể cùng nghe
Chuyện ân oán chuyện khen chê mỗi thời
Cảnh xưa trước mắt đây rồi
Tưởng đâu cảnh ấy một thời đã qua
Hữu tình ta lại gặp ta
Cuộc đời dâu bể biết là về đâu
Lất gì đong được nỗi sầu
Tài co mệnh bạc phải đâu một người
Đọc Kiều đâu chỉ một thời 
Mỗi lần đọc lại bồi hồi như mơ
Đọc rồi vẫn nghĩ là chưa
Suốt đời vương vấn Tố Như -Nàng Kiều
DIZIKIMI

ĐINH TIÊN HOÀNG

NHỮNG BÍ ẨN VỀ ĐINH TIÊN HOÀNG
Cho đến tận thời điểm này, thân thế và cái chết của Đinh Tiên Hoàng, người khai sinh ra một nước Nam độc lập sau 1.000 năm Bắc thuộc, vẫn là một điều gây nhiều tranh cãi.
Các sử sách để lại đều có những lý giải không thể đơn giản hơn về nguồn gốc và cái chết của Đinh Tiên Hoàng. Đến mức nhiều người không thể tin được một vị Vua văn võ toàn tài, hội đủ mọi phẩm chất Trung, Hiếu, Dũng, Chí, Tín lại được ghi nhận sơ sài đến thế…
Các tài liệu lịch sử, kể cả lịch sử Việt Nam và sử Tàu, nói về nguồn gốc của Đinh Bộ Lĩnh có đôi nét khác nhau, cộng thêm với hàng loạt truyền thuyết, những câu chuyện dân gian lưu truyền, kể cả những truyền thuyết hoang đường, làm cho việc xác định nguồn gốc nhân vật gặp không ít khó khăn...
1.Truyền thuyết hoang đường về một danh nhân lịch sử…
Tương truyền, ở động Hoa Lư - quê Đinh Bộ Lĩnh có cái đầm rất sâu. Mẹ ông thường vẫn vào trong đầm tắm giặt. Ở đầm có con rái cá to lớn sống lâu đã thành tinh. Một hôm, bà bị con rái cá ấy hãm hiếp mà thụ thai.
Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, Đinh Bộ Lĩnh được sinh hạ. Ít lâu sau cha ông là Đinh Công Trứ qua đời, con rái cá cũng bị người dân bắt được đem làm thịt, bỏ xương vào một xó. Hay tin ấy bà vội đến, nhặt xương và gói ghém để trên gác bếp, bảo với Đinh Bộ Lĩnh đấy là hài cốt của cha.
Ngay cả “Đại Việt Sử ký toàn thư” cũng chỉ giới thiệu về thân thế Đinh Tiên Hoàng rất đơn giản: Đinh Bộ Lĩnh sinh năm Giáp Thân (924). Về hoàn cảnh xuất thân của Đinh Bộ Lĩnh: Xưa, cha của vua là Đinh Công Trứ làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, được Nghệ giao giữ chức quyền Thứ sử châu Hoan, sau theo về với Ngô Vương, vẫn được giữ chức cũ, rồi mất.
Vua mồ côi cha từ bé, mẹ là người họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng.
Ông Nguyễn Văn Son (hội viên Hội Di sản Văn hóa Việt Nam) cho rằng, chúng ta cần xem lại chi tiết này trong cuốn chính sử của nước Việt. Ông lý giải: Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán rồi lên ngôi năm 938, khi đó Bộ Lĩnh đã 14 tuổi.
Cha của Bộ Lĩnh theo Ngô Vương, có nghĩa là ít nhất đến năm 16 tuổi cha mới mất, không thể coi rằng vua mồ côi cha từ bé.
Trong cuốn truyện “Ngọn cờ lau lịch sử”, tác giả Nguyễn Như (viết năm 1981) kể rằng, Công Trứ và Đàm Thị sánh duyên đã trên dưới chục năm mà chưa có con. Là người học rộng, tài cao, có tư chất nên Công Trứ được trọng dụng giao chức Thứ sử, cai quản vùng châu Hoan.
Sau 6 năm nhậm chức, người vợ Đàm Thị ở quê nhà mới có điều kiện để vào thăm chồng. Vợ chồng gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, nào ngờ tai họa lại giáng xuống giữa đêm đó…
Một tướng tinh (sao Băng) trên trời cao sa xuống dinh quan Thứ sử. Hào quang của ngôi sao mạnh và tỏa rộng, cùng với nắng nóng ban ngày đã làm khô mọi vật nên đã xảy ra hỏa hoạn, làm cho tất cả kho tàng, trại lính và dinh thự của quan Thứ sử đều bị thiêu rụi.

Cũng từ lúc đó, Công Trứ bỗng dưng bị ốm liệt giường, cấm khẩu. Đàm Thị cùng gia nhân và những người tâm phúc lo lắng cho rằng “Đằng nào thì Công Trứ cũng không sống được nữa, bởi không chết vì triều đình trách tội thì cũng chết vì căn bệnh này” nên mọi người liền đưa Công Trứ về quê.
Về Đại Hữu được một thời gian thì Công Trứ khuất núi, cũng là lúc Đàm Thị phát hiện mình đã có thai. Một thời gian sau quan quân triều đình về, truy xét Công Trứ vì tội làm cháy nhà cửa, kho tàng và dinh thự ở Hoan châu nên tuyên phạt “lưu đày biệt tích và tịch thu toàn bộ gia tư, điền thổ.
Nhưng Công Trứ không còn, quan triều đình lại hỏi đến con của Công Trứ và phán rằng: “Sau này nếu sinh con trai, khi đứa con đó đủ mười tám tuổi sẽ phải chịu tội thay cha”.
Vợ chồng Đinh Thúc Dự (là em ruột của Đinh Công Trứ) lo lắng, bàn bạc quyết bảo vệ cháu nên đã bịa ra câu chuyện rằng Đàm Thị đã bị con rái cá thành tinh hiếp. Nếu có sinh ra con trai thì cũng là “tạp chủng” chứ không phải là con của Công Trứ.
Đó là cái cớ để Đàm Thị sang nương nhờ bên ngoại là Đàm Gia Trang. Đủ chín tháng mười ngày, đêm rằm tháng ba năm 924, Bộ Lĩnh đã cất tiếng khóc chào đời.
Cuốn truyện Ngọn cờ lau lịch sử có nhiều kiến giải rõ ràng về thân thế Đinh Tiên Hoàng.
2.Sự thật về thân thế Đinh Tiên Hoàng
Lọt lòng mẹ, Bộ Lĩnh đã có tướng mạo phi phàm, mắt nhanh như chớp, sáng như sao, mặt to, tai lớn, hàm én, mày ngài. Càng lớn Bộ Lĩnh càng giống Công Trứ, nên nỗi lo trong lòng người chú ruột cũng tăng theo năm tháng.
Một hôm Thúc Dự bàn với Đàm Thị là đưa đàn trâu cùng Bộ Lĩnh qua sông Đại Hoàng (sông Hoàng Long hiện nay), đến khu núi non, thung lũng để chơi với trẻ chăn trâu bên đó.
Bề ngoài Thúc Dự tỏ ra ích kỷ, lạnh lùng, đày đọa Bộ Lĩnh, mang tiếng đuổi cháu vào rừng chăn trâu cắt cỏ, không được bén mảng về nhà, suốt ngày mò cá mà ăn vì là “con rái cá, giống tạp chủng” nhưng bên trong, Thúc Dự bí mật rước một thầy dạy thật giỏi, cả văn lẫn võ tên là Lưu Phúc, cung cấp tiền của, nhờ thầy giữ kín không cho Bộ Lĩnh cùng mọi người xung quanh biết, quyết cho Bộ Lĩnh học văn, luyện võ.
Việc quan lưu tại án văn nên vài năm sau, quan quân triều đình lại rầm rập kéo về gặp Thúc Dự, vì có tin ngầm báo Bộ Lĩnh đã lớn, là con ruột của Đinh Công Trứ. Hai vợ chồng Thúc Dự cùng nhau vẽ ra một câu chuyện khiến quan quân triều đình tin rằng Bộ Lĩnh đúng là con của rái cá như:
“Nó đen trũi, lặn ngụp dưới sông Sào Khê, mò cá ăn sống, mắt nó bây giờ đỏ lòm và lông lá mọc đầy người”, hoặc “Khi nó 9, 10 tuổi đã rất giỏi bơi lặn. Ai cần mua một con ba ba to bằng nào, chỉ cần lấy que vẽ khoanh xuống đất. Nó nhìn một lượt rồi nhảy tùm xuống nước, chỉ một loáng là nó đã nắm cổ một con ba ba đúng như hình vẽ. Nó như một con ma rái cá vậy” để có thể qua mặt được quan quân triều đình.
Lý giải trong cuốn truyện này cũng đồng nhất với nhiều tài liệu sau này của các nhà nghiên cứu lịch sử. Theo đó, Đinh Bộ Lĩnh sinh trưởng trong một gia đình quan chức, cha là Tiết độ sứ ở vùng châu Hoan.
Khi cha mất, ông cùng với mẹ và toàn bộ gia nhân về quê sinh sống. Với lứa tuổi đang độ trưởng thành cộng với trí thông minh, tài năng bẩm sinh và ý chí mạnh mẽ của chàng thanh niên con quan có học, Đinh Bộ Lĩnh dễ dàng chiếm được lòng mến phục của lớp trai trẻ châu Đại Hoàng.
Ông đã tập hợp quanh mình nhiều bạn bè cùng trang lứa và còn thu phục được sự tin tưởng, nể vì của các bậc bô lão trong vùng, dần dần ông đã trở thành người cầm đầu của cả châu Đại Hoàng thời ấy.
Cùng với đội ngũ bạn bè thời niên thiếu như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên Nhà nước Đại Cồ Việt sau 1.000 năm Bắc thuộc, đồng thời cho đúc tiền để khẳng định nền độc lập tự chủ.
Theo báo Pháp Luật


Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

H.CÁC MÁC - TÌNH YÊU VÀ BÃO TÁP
Hồ Tĩnh Tâm
Trong chúng ta, nhiều người có lẽ chỉ biết rằng, Mác là một chiến sĩ Cách mạng, là một nhà bác học lớn nhất của nhân loại, người sáng lập ra Chủ nghĩa Cộng sản khoa học, chứ ít ai biết rằng, Mác còn là một nhà thơ của TÌNH YÊU VÀ BÃO TÁP.

X
by Counterflix
Trên thực tế, từ năm 15 tuổi, Mác đã làm thơ, và làm thơ rất hay. Thơ của Mác đến với bạn đọc Việt Nam, chủ yếu được dịch từ các tập “Ca khúc”, “Thơ tình yêu”, ‘Thơ tặng cha yêu qúy”, “Thơ viết những năm từ 1835 đến 1836”, và tập dân ca do Mác sưu tầm từ nhiều nước với lời đề tặng Gienny.

Điều đặc biệt là thơ của Mác viết ra đều không đem in, trừ hai bài in vào đầu năm 1841, trên tờ “Aetheneam”, cơ quan ngôn luận của nhóm Hêghen trẻ. Hai bài đó in với một tựa đề chung là “Những ca khúc hoang dại”. Ngay sau khi hai bài thơ được công bố, một tờ báo xuất bản tại thành phố Phranphua đã đánh giá: “Mác là một tài năng thuộc về nguyên tính”. Điều đó hoàn toàn đúng với con người “dấn thân” của Mác.

Trong bài “Không đề”, dường như Mác đã tuyên ngôn về điều đó:

Căng và Phíchtơ thích tìm nơi xa lạ
 Trên trời sao, thăm thẳm, mông lung;
Tôi chỉ gắng hiểu sao cho cặn kẽ
 Những gì tôi tìm thấy dọc đường.

Tìm hiểu cuộc đời của Mác, chúng ta biết rằng, ngay trong tháng đầu tiên, khi Mác đến Bon để học đại học, Mác đã viết liền 100 bài thơ gởi tặng Gienny, và Gienny đã khóc, đã viết thư trả lời, rằng đó không phải là sự nghiệp cả cuộc đời của Mác. Gienny đã nói đúng, bởi vì sau này Mác không trở thành nhà thơ, mà trở thành lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới. Nhưng trái tim Mác, tâm hồn Mác, là thuộc về tình yêu, thuộc về tranh đấu cho công bằng xã hội, nên nó vĩnh viễn rung lên những giai điệu cuộc đời. Vì thế ta càng dễ hiểu, vì sao thơ của Mác chủ yếu viết tặng Gienny, viết tặng người chị ruột Xôphi, và viết tặng người cha yêu dấu.

X
by Counterflix
Chỉ riêng với những bài thơ viết tặng Gienny, chúng ta đã có thể nói rằng, Mác là một nhà thơ tình kiệt xuất.

Đọc những bài thơ ấy, ta thấy rất rõ, trái tim yêu đương của Mác luôn rung lên trên từng cung bậc, chỉ nhằm để khẳng định một điều duy nhất: Anh yêu em! Yêu em! Yêu em! Và rất yêu em!     

Tiếng đàn anh đã cất lên
Những lời chung thủy vang trên núi ngàn

Niềm vui, nỗi khổ ngập tràn

Khúc tình ca vẫn rộn ràng thi nhân
Đến cùng anh hỡi nữ thần
Muôn trùng xa cách vẫn gần đó em!
Qua ngàn thác lửa tình duyên
Qua bao bí ẩn lọc nên thơ này:
Yêu em, yêu trọn tháng ngày…
 (Tr “Gienny”)
       
Mác và Gienny yêu nhau, đó là một tình yêu tuyệt diệu, một mối tình vĩ đại, mà lịch sử tình yêu của nhân loại đã từng được chứng kiến. Với Mác, tình yêu ấy cháy lên rừng rực trong từng câu chữ, như gió bão cháy lên từ trái tim mặt trời ngàn triệu độ.

Gienny! Em hãy cười và nhìn anh âu yếm hỏi

Sao thơ anh toàn viết “Gửi Gienny”?

Có gì đâu em ơi, những mạch đập thầm thì
Những khúc hát lòng anh đều hướng về em cả!
Có gì đâu em ơi, từng âm thanh rộn rã
Từng nét chữ ngỡ ngàng đều rực rỡ tên em!
 (Tr “Gửi Gienny”)
     
Với Mác, sự bày tỏ tình yêu bao giờ cũng mãnh liệt- mãnh liệt như chính con người “dấn thân” của Mác.

Hãy xem! Anh có thể viết hoài, viết mãi tên em
Hai chữ GIENNY lên ngàn cuốn sách
Nhưng làm sao ghi được hở em, những ý tình hiển hách
Những ước mong trong sáng ngọt ngào
Những vần thơ tươi mát dạt dào

Những ánh thép ngời ngời tinh khí

Những niềm vui của thánh thần, dũng sĩ     
Những nỗi đau u uất của dân thường!

Anh có thể đọc tên em trong muôn vàn tinh tú
Và gió mây, và sóng cồn bão tố
Sẽ trả lại hồn anh hai tiếng tên em
Bao thế kỷ sẽ ngước nhìn, và cảm thấy thân quen
Vĩnh viễn Gienny là cái tên tình ái!
 (Tr “Gửi Gienny”)

Thơ tình của Mác được viết với bút pháp rất mãnh liệt, cả về cấu tứ, cả về hệ thống ngôn ngữ sử dụng, bởi vậy, nó có được sức mạnh của cú sét ái tình, nhưng rồi nó vẫn lắng được những gì mà đất trời đem lại sau cơn cuồng phong bão táp.

Ơi tình yêu ta, biếc xanh từng ngọn cỏ
Tự tim ta, sóng vỗ đến vô hồi…
 (Tr “Gửi Gienny”)

Sinh thời, Mác từng trả lời con gái, rằng, “hạnh phúc là tranh đấu”, bởi vậy, tình yêu trong thơ của Mác cũng gắn liền với tranh đấu- tranh đấu để khẳng định tình yêu chung thủy.

Hát lời bão lửa cùng em
Ấy là tiếng hát nghìn đêm của lòng
Băng qua muôn dặm bão bùng
Yêu nhau, em nhé, ta cùng đấu tranh!
 (Tr “Khúc hát lòng anh”)

Trong bài “Giãi bày”, Mác cũng đã từng khẳng định điều đó:

Anh phải tự vượt lên

Bằng tâm hồn cháy bỏng

Phá tan mọi xích xiềng
Tìm em trong náo động.

Đâu phải lời tốt đẹp
Là dấu hiệu tình yêu
Làn môi em dẫu khép
Rộn tình anh sớm chiều.
                              
Đối với Mác, dường như  kỷ niệm đẹp nhất của tình yêu, chính là kỷ niệm về sự đấu tranh cho hạnh phúc của tình yêu bất diệt. Kỷ niệm ấy, tự nó sẽ đọng lại, đọng lại trên cung đàn bất diệt của toàn nhân loại.

Bao nhiêu kỷ niệm êm đềm
Thành bao nốt nhạc rung trên đất này
Thánh thần kia có đắm say
Cũng lùi xa, trước sóng đầy tình ta.
 (Tr “Gienny”)

Trong đêm trường tăm tối của chủ nghĩa tư bản, thứ chủ nghĩa mà như Mác nói: “đẫm máu tới từng lỗ chân lông”, Mác chính là người nhóm lửa thiêu đốt nó. Năm 30 tuổi(1848), Mác đã cùng với Ăngghen viết “một cuốn sách nhỏ tràn đầy thi vị chân chính, muôn đời sẽ là bài ca của những bài ca chủ nghĩa Mác, đó là BẢN TUYÊN NGÔN ĐẢNG CỘNG SẢN”. Sự nghiệp tranh đấu của Mác đi vào hồi quyết liệt- quyết liệt tới mức Mác bị trục xuất khỏi tổ quốc, phải sống những năm tháng lưu vong đói và rét tới cùng cực(tới mức Gienny phải cầm cố tất cả đồ đạc, kể cả đem nhẫn cưới đi bán). Nhưng từ trong những năm tháng cơ hàn gian nan ấy, Mác đã chấm ngòi viết vào tim mình, hoàn thành tác phẩm kiệt xuất nhất, khoa học nhất của thời đại- và của mọi thời đại- đó là tác phẩm TƯ BẢN, kim chỉ nam của toàn bộ học thuyết Mác xít Lê Nin nít, khẳng định giai cấp vô sản toàn thế giới phải liên hiệp lại, đứng lên đào mồ chôn vùi chủ nghĩa tư bản, tự giải phóng đời mình khỏi xiềng xích áp bức bất công.

X
by Counterflix
Trong bài “Niềm kiêu hãnh của con người”, Mác đã viết lên những dòng thơ lửa cháy, kêu gọi nhân loại đứng lên tranh đấu cho tự do, cho bình quyền, bình đẳng:

Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên chi hết
Trước những con người xông thẳng tới trời cao!
Không! Không thể sống những phận hèn lê lết
Hãy nhìn lên và ngẩng cao đầu!

Hãy vươn tới, nhũng gì ta mơ ước
Những nỗi niềm khao khát tựa dầu sôi
Ta chẳng muốn cảnh tro tàn, đổ nát
Ta xông lên, muôn dặm biên thùy.

Chẳng ai bắt ta ngừng hy vọng

Chớ bi quan, sợ hãi, chán chường!

Chỉ có đốt hồn ta bằng lửa nóng
Mới làm nên những chuyện khác thường!

Trung thành với lý tưởng ấy, thơ của Mác cũng bùng lên cơn cuồng phong của bão táp Cách mạng, từng chữ gầm lên như trái phá bắn thẳng vào thành trì chủ nghĩa tư bản.

Hãy đòi cả bầu trời
Cùng xông vào chiến đấu
Cho mây trời tóe máu
Trong lửa bốc thành hơi.
 (Tr “Bài ca bão táp”)

Thơ của Mác chính là vũ khí tranh đấu. Rất nhiều bài thơ của người, ngân vang lời kêu gọi tranh đấu, đọc lên nghe sang sảng tiếng sắt thép chói lòa xung trận.

Băng lên qua bão táp

Làm chủ cuộc đời này

Dù mỏi đôi cánh bay
Không được ngừng tiếng hót
Hãy vươn lên phía trước
Cưỡi lên trên trời mây.
 (Tr “Tiếng gọi”)

Tất cả sức mạnh ngôn ngữ mà Mác biến được thành tình yêu và bão táp trong thơ, chính là xuất phát từ trái tim rất đỗi con người của Mác.

Trong bài “Tặng cha”, Mác tâm sự:

Cha thân yêu! Những khúc hát thần tiên
Từ dòng máu cha xưa đã thấm vào con đấy!
Noi gương cha con không ngừng vươn tới
Và xem thường mọi gian khó, nguy nan.

Với người cha yêu dấu, Mác tự thấy mình là bé bỏng. Người viết rất chân tình trong bài “Đoạn kết”:

Con chỉ dám gởi về cha những vần thơ náo động
Đã nhen lên, như lửa sáng, chân thành
Không phải thơ hay, nhưng là tiếng tốt lành
Của một đứa con nơi phương trời xa thẳm.

Khi mà tình người được hun đúc thành thơ, thơ của Mác bùng cháy những nỗi niềm làm tim ta rướm lệ.

Đây là lời than khóc của “Người đàn bà mù”:

 

Chúa Trời đã gửi cho tôi

Nỗi đau đớn ấy, ai người dễ quên?
Chao ơi, tôi khát, tôi thèm
Được nhìn vẻ đẹp vút lên mây trời!
Lẽ nào đã khép trong tôi
Niềm vui, cảm hứng sáng ngời thần tiên.
Những gì cuộc sống tạo nên
Trong tôi vĩnh viễn thành quên lãng rồi!
Chao ôi, biết mấy năm trời
Nén đau trong ngực, không lời thốt ra.
Vậy mà bão táp bên ta
Cứ giằng, cứ xé, biết là cậy ai!

Viết về người mẹ đã khuất, thơ Mác như nấc lên nghẹn ngào trong từng chữ:

 

Ơi mẹ thân yêu

Nếu sương chẳng xuống
Thì chúng con uống
Nước mắt chúng con!

Nước mắt chúng con
Khóc thương nhớ mẹ
Từ lâu có thể
Muốn vỡ mắt ra!
 (Tr “Thăm mẹ”)

Thơ của Mác là thơ của tình yêu và bão táp, nhưng suy cho cùng, vẫn là thơ của một trái tim rất đỗi con Người.

Ta đứng trên mặt đất
Muốn tự mình sáng lên
Bằng tâm hồn chân thật
Bằng sức sống thanh niên.
 (Tr “Gởi các vì sao”)
Hồ Tĩnh Tâm
Số lần đọc: 2755
Ngày đăng: 01.03.2005
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩmGóp ýGửi cho bạn
Cùng thể loại
Huy Cận – Lửa vẫn còn thiêng - Trần Mạnh Hảo
Phong tục ba ngày Tết của dân tộc ta - Phạm Thủy
"Ông Đồ " một di sản văn hoá Việt Nam - Quán Anh
Tát đìa – Niềm vui thôn dã - Nguyễn Kim
Thi ca và sự tầm thường hóa - Võ Tấn Cường
Đôi điều cảm nhận về thơ văn và cuộc đời cụ Nguyễn Đình Chiểu nhân kỷ niệm lần thứ 182 ngày sinh của nhà thơ - Lữ Bảo Minh Châu
Hiền tài là nguyên khí của đất nước - Nguyễn Kim Bảng
Món ngon Ba Tri - Lâm Triều An
Cử nhân Phan Văn Trị Nhà văn hóa, nhà thơ bút chiến - Đặng Trần Tụy
Số báo bằng tiếng Việt đầu tiên trên nước ta - Nguyễn Kim Bảng
Cùng một tác giả
Ngũ long công chúa (truyện ngắn)
Nàng (thơ)
Thầy Thi (truyện ngắn)
Có một mùa mưa (truyện ngắn)
Bến thần Kê (truyện ngắn)
Cu Đồ cháy mấn (truyện ngắn)
Chết giữa dòng sông (truyện ngắn)
Đêm Noen (truyện ngắn)
Vi rút rừng xuân (truyện ngắn)
Huynh đệ thần kê (truyện ngắn)
Gà đẻ gà cục tác (truyện ngắn)
Công an xã (truyện ngắn)
Hoành (truyện ngắn)
Bập bùng giai điệu (truyện ngắn)
Dòng sông tuổi thơ (truyện ngắn)
Cõi hoang thăm thẳm (truyện ngắn)
Mùa xuân dìu dịu (truyện ngắn)
Chuyện ở Làng Gao (truyện ngắn)
Chú Bảy (truyện ngắn)
Dấu ấn cuộc đời (truyện ngắn)
Một thời (truyện ngắn)
Thằng bé chết (truyện ngắn)
Tư Sẹo (truyện ngắn)
Nhỡ xe (truyện ngắn)
Con cà con kê (tạp văn)
Xóm phố (truyện ngắn)
Vòng quay của ngựa (truyện ngắn)
Con ngựa (truyện ngắn)
Giai điệu (truyện ngắn)
Bên hồ sen trắng (truyện ngắn)
Út Hường (truyện ngắn)
Bông điên điển (truyện ngắn)
Anh Dần (truyện ngắn)
Bạn cùng làng (truyện ngắn)