Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

10 NHÀ BÁO NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI

TỐP 10 NHÀ BÁO NỎI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI
Hiện nay, báo chí đang ngày càng phát triển và nở rộ với sự ra đời của hàng loạt tờ báo, các trang tin tức nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của con người. Đã có rất nhiều nhà báo trên thế giới không chỉ đối mặt với nhiều nguy hiểm mà còn ĐẶT CƯỢC cả tính mạng của mình để có được những thông tin nóng nhất . Sau đây là chân dung một số nhà báo lừng danh nổi tiếng trên thế giới.
1.Joseph Pulitzer

Được coi là huyền thoại của làng báo chí Mỹ, Joseph Pulitzer là một nhà báo rất nổi tiếng, tên của ông đã được đặt cho giải thưởng báo chí uy tín - giải Pulitzer, một trong những giải danh giá nhất trong lĩnh vực báo chí. Năm 1878, Pulitzer mua tờ báo St. Pouis Post-Dispatch, sau đó ông cứu vớt tờ báo sắp phá sản là The New York World. Bằng sự nỗ lực tới quên mình, ông đã thay đổi cách làm nội dung, thường xuyên tung ra những phóng sự điều tra hấp dẫn, vấn nạn tham nhũng và hối lộ. Nhờ đó, tờ báo đã có số lượng phát hành ngày càng tăng, trở thành một trong những cơ quan báo đứng đầu nước Mỹ. Tuy nhiên sau đó vì lý do sức khỏe, ông đã rút khỏi vị trí quản lý tờ báo ở tuổi 43. Năm 1904, ông viết di chúc để lại cho trường Đại học Tổng hợp Columbia 2 triệu USD nhằm sử dụng cho việc thành lập trường báo chí và trao giải thưởng báo chí. Sau khi mất, ông được chôn cất tại nghĩa trang Woodlawn ở Bronx, New York.   
2.Dorothy Thompson



Là một trong những nhà báo lừng danh thế giới, Dorothy Thompson là một bình luận gia chính trị. Sau khi tốt nghiệp Đại học Syracuse, Dorothy Thompson làm việc cho phong trào nữ quyền rồi chuyển đến New York để bắt tay gây dựng những mốc đầu tiên trong sự nghiệp báo chí. Bà trở thành người đứng đầu văn phòng Berlin của tờ New York Post và Public Ledger. Trở về Mỹ năm 1936, sau lệnh trục xuất khỏi Đức, bà tiếp tục công việc làm báo, và trong vai trò là một giảng viên đại học, phát thanh viên đài phát thanh NBC. Chính điều đó khiến bà trở thành nữ nhà báo cung cấp thông tin nhiều nhất cả nước. Mọi người gọi bà là "Đệ nhất phu nhân của Báo chí Mỹ". Bà qua đời ở Bồ Đào Nha vào năm 1961

3.William Randolph Hearst
Bắt đầu sự nghiệp xuất bản từ năm 1887, rồi thay thế cha tiếp quản tờ báo The San Francisco Examiner. William Randolph Hearst được biết đến là trùm báo chí người Mỹ, với việc thâu tóm nhiều tờ báo, tạp chí, ông đã tạo nên một hệ thống báo lớn trên thế giới. 
4.Edward Murrow


Là một phát thanh viên nổi tiếng thế giới, thu hút hàng triệu thính giả, ông chính là người tiên phong trong thể loại tường thuật thời sự nước ngoài qua sóng radio. Có tài ăn nói hoạt bát cùng với cách dùng từ trong truyền tải tin, ông được rất nhiều người yêu mến. Ngoài ra, ông còn thực hiện nhiều phóng sự truyền hình liên quan tới chiến tranh. Mặc dù không tốt nghiệp trường lớp báo chí nào, nhưng ông chính là người đặt viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của thể loại báo thanh cùng với những kinh nghiệm, lòng nhiệt huyết, sự dũng cảm bất chấp nguy hiểm khi tác nghiệp.
5.Walter Cronkite
 

Được mệnh danh là “người đàn ông trung thực nhất nước Mỹ”, Walter Cronkite được biết đến nhiều trong vai trò phát thanh viên chương trình Evening News (Bản tin thời sự buổi tối) của CBS được hàng triệu người theo dõi. Là người tiên phong trong lĩnh vực báo chí truyền thông, ông đã giúp công chúng Mỹ đến gần hơn một cách chân thực, chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam, vụ ám sát Tổng thống Mỹ John F.Kennedy hay cuộc đổ bộ lên mặt trăng của tàu Apollo. Walter Cronkite qua đời vào năm 2009 ở tuổi 92.
6.Kate Adie


Là một trong số ít những nhà báo nữ có mặt tại các điểm nóng trên thế giới như vụ giải cứu con tin của lực lượng đặc nhiệm SAS tại tòa đại sứ Iran ở London hay sự kiện Thiên An Môn tại Trung Quốc. Kate Adie là biên tập viên, người dẫn chương trình của chuyên mục “Phóng viên chiến trường” trên kênh số 4 của đài phát thanh BBC (Anh). Ngoài ra, bà còn là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng và đặc biệt bà còn được biết đến là một người phụ nữ nhân hậu bởi mỗi khi tác nghiệp tại các nước nghèo, bà đều tham gia hoạt động từ thiện.

7.Tim Russert


Tim Russert - một nhà báo chính luận xuất sắc của Mỹ, có ảnh hưởng tới báo chí thế giới. Tim Russert đảm nhiệm chương trình Meet the Press vào mỗi sáng chủ nhật và xuất hiện trong các chương trình thời sự hàng ngày như Today vào buổi sáng, Nightly News vào buổi tối…. Ngoài ra, ông giữ chức Giám đốc chi nhánh của NBC News đặt tại Washington. Được biết đến là một phóng viên yêu nghề và tâm huyết với công việc, ông để lại dấu ấn khó phai trong lòng khán giả. Ông qua đời trong một cơn đau tím khi đang chuẩn bị lên hình đã gây chấn động giới truyền thông.
8.Hu Shuli (Hồ Thúc Lý)

Từ một phóng viên, biên tập viên quốc tế của tạp chí Thời báo kinh tế Trung Quốc, nữ nhà báo Hu Shuli hiện đang là Tổng biên tập Tập đoàn truyền thông Caixin Media do chính bà thành lập. Nổi tiếng với các phóng sự điều tra về nạn tham nhũng, cùng với sự dự đoán kinh tế Trung Quốc chính xác, Hu Shuli được xếp vị trí 87 trong danh sách Những phụ nữ quyền lực nhất thế giới 2011 của Forbes và Top 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất của tạp chí Time cùng năm. Là người có tư duy nhạy bén của một chuyên gia truyền thông, bà còn là một thành viên Ban cố vấn biên tập của Reuters.
9.Wolf Blizter















Một trong những nhà báo truyền hình có ảnh hưởng nhất hiện nay là Wolf Blitzer. Ông từng làm phóng viên cho CNN từ năm 1990. Tuổi thơ khó khăn đã giúp ông trưởng thành với một sự cứng cỏi, dám nghĩ dám làm để có được những tác phẩm báo chí gây được tiếng vang lớn. Hiện ông là nhà tổ chức chương trình The Situation Room 
10.Christiane Amanpour
Một trong những gương mặt nổi tiếng nhất của hãng tin ABC News, Nữ phóng viên Christiane Amanpour luôn là người đảm nhận các chương trình phỏng vấn quan trọng. Bà được biết đến là một nhà báo phỏng vấn tài ba các nguyên thủ quốc gia với rất nhiều tác phẩm có chiều sâu để lại ấn tượng trong lòng độc giả. Chính vì vậy, Christiane Amanpour đã được trao nhiều giải thưởng cao quý.
10.Christiane Amanpour
Báo chí đang ngày càng chứng minh được vị trí của mình trong đời sống xã hội. Đóng góp vào sự thành công này chính là những nhà báo mà tên tuổi và sự nghiệp của họ là tấm gương cho người làm báo sau này dám dũng cảm để nói lên sự thật, để lại nhiều dấu ấn trong lòng công chúng.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

CÁC DẠNG ĐỐI TRONG THƠ


CÁC DẠNG ĐỐI TRONG THƠ VÀ THƠ LUẬT ĐƯỜNG.
+BIỀN NGẪU [CHỈNH ĐỐI]
-KHOAN ĐỐI GỒM:
+LƯU THUỶ ĐỐI
+CÚ TRUNG ĐỐI [TIỂU ĐỐI]
+TÁ TỰ ĐỐI [đối tiếng đối bóng] VÀ SỐ TỰ ĐỐI
+TỰ CÚ ĐỐI[ĐƯƠNG ĐỐI]
+GIAO CỔ ĐỐI [ĐỐI TRÉO NGOE,TRÉO CẲNG NGỖNG]
+BẤT ĐỐI CHI ĐỐI [CHỮ KHÔNG ĐỐI NHƯNG Ý ĐỐI]
đối trong thơ lục bát:
Câu tiểu đối trong thơ Lục bát: Trong một câu thơ có hai ý nhỏ đối nhau. Ta thường gặp nhiều trong thơ lục bát, ví dụ:
Làn thu thuỷ , nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
1) Tiểu đối trong thơ đường luật:
Cướp của , đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà , da cóc có đau không
(Nguyễn Khuyến)
Câu đối phú: là một thể văn vần có cấu trúc phức tạp, bao gồm câu, vế ngắn, vế dài, lại có lối diễn đạt lai văn xuôi, nên có thể định nghĩa Phú là một dạng biến văn kết hợp giữa vần lai văn xuôi.
Ví dụ:
Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những quỷ
Ta nay nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng tiên
(Nguyễn Khuyến)
Câu đối phú nhiều khi dài dằng dặc tới mấy dòng:
Hành niên qua nạo đến cùn xương, nào tiền nhà, nào tiền học, nào tiền thuế, nào tiền ăn, nghĩ đời sống lắm phen chớ phở.
Mùi tết mới tha hồ béo mỡ, này chén rượu, này chén chè, này chén anh, này chén chú, gặp ngày xuân thoả sức đá gà.
Tôi nói đối phú ở đây để làm rõ hơn,vì thơ luật đường lấy luật đối đi ra từ phú...Phú được trọng vọng hơn nên được gọi là PHÚ GIA,còn tay thơ có hay mấy cũng chỉ gọi là NHÀ THƠ.
vài nét về đối trong thơ lục bát, đối một câu hoặc đối nguyên cả hai câu sáu và tám này với hai câu sáu và tám khác... hoặc là sử dụng câu tiểu đối để xây dựng hai vế đối nhau trong một câu:
Ví dụ  đối nguyên hai câu sáu và tám
Lên voi, xuống ngựa, tốt chiều,
Chàng gan tướng sĩ, thiếp liều pháo xe.
Tiểu đối:
Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm , sắt mài nên kim
Các phép đối chính của thể loại câu đối nói chung:
Đối chữ: Hán đối với Hán, Nôm đối với Nôm, Việt đối với Việt, Hán Việt đối với Hán Việt;
Đối ngữ (từ loại) danh từ đối danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ, đơn thanh đối với đơn thanh, điệp thanh đối với điệp thanh, hiệp thanh đối với hiệp thanh…v.v
Đối cú: Cấu tạo của hai vế đối giống nhau, cùng một kiểu loại, vế trên có những thành phần nào, thì vế dưới cũng có thành phần ấy.
Đối ý: Đối ý là đối về nội dung:
Đối tương đồng hay đối bổ sung: Hoặc là hai vế cùng một ý nhằm tăng cường điều cần diễn đạt;
Hiểu tùy thiên trượng nhập
Ộ nhạ ngự hương quy
(Sớm theo xe vua mà đến,
Chiều mang hương ngự trở về)
Đối tương phản: Hoặc ý trong hai vế trái ngược nhau về mục đích hay phạm trù diễn đạt
Bạch phát bi hoa lạc
Thanh vận tiện điểu phi
(Tóc bạc nên thương hoa rụng,
Mây xanh phơi phới cánh chim bay)
Đối thừa tiếp: Hoặc giữa hai vế có mối lý luận nhân quả, so sánh nhượng bộ
Tức phòng viễn khách thùy đa sự
Tiện sáp sơ li khước thậm chân
(Người ta e dè khách xa, tuy lắm chuyện đấy
Nhưng bởi mình cắm rào thưa, họ tưởng cấm thật)
(Đỗ Phủ )
Đối nghĩa: Bao gồm nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen: Nội dung tổng thể phải luận bàn nhất quán về một vấn đề, ví dụ xuôi - ngược, khó - dễ, yêu – ghét, màu sắc, muông thú.. v.v
Nghĩa bóng: là nghệ thuật sử dụng chữ, hoặc là một chữ có nhiều nghĩa, hoặc là nhiều chữ trong câu có cùng một nghĩa.
Đối âm tiết: Trắc bằng nghịch nhau ở chữ cuối của mỗi tiểu vế, và tiết tấu phải đồng nhất.
Đối số lượng: vế ra bao nhiêu chữ, vế đối cũng bấy nhiêu chữ. Phải cân xứng số lượng chữ đến trong từng ý nhỏ.
Trên các diễn đàn thơ và thơ Đường luật hiện nay, khách quan mà nhận xét thì cơ bản mới chỉ sử dụng tới phép đối biền ngẫu [chỉnh đối] là chính, nhưng chỉnh đối cũng đang bị hiểu có phần sai lệch,méo mó... Từ chỗ dựa vào chỉnh đối để xét nét nhau, nên nhiều người đem xé nhỏ câu thơ thành từng chữ,và đem so đo trên dưới để chặt chém, mà đã quên mất yếu tố ngữ pháp,câu từ , từ còn có từ đơn, từ kép, từ ghép,từ láy... Quên cả xem xét về mặt cấu trúc câu xem vị trí của chữ đang diễn đạt là gì, động từ, tính từ, hay chỉ là bổ ngữ hỗ trợ...! Bởi thế, không thiếu trường hợp chữ trong câu thơ được sắp đặt bày ra trước mắt, nhìn vào thì có vẻ sóng đôi ([chỉnh đối) đấy, nhưng hồn vía của thơ thì chẳng thấy đâu... Ngược lại, người đưa được hồn vía vào thơ thì bị chê tơi tả rằng không chỉnh đối, cũng vì cái lối xé nhỏ câu chữ và hiểu méo mó đó mà ra...!!
Theo tôi thì đúng ra, đó là do phần học lý thuyết của những người này,chỉ mới đọc một mà chưa đọc đến hai chứ chưa nói đến ba ,bốn... Không nhất thiết cứ chữ trên song song với chữ dưới cùng một loại tự là chỉnh đối.. Cũng như câu đối thơ không chỉ có phép đối biền ngẫu [chỉnh đối], mà còn có nhiều phép đối khác. không chỉ có công đối (đối chỉnh) mà còn có khoan đối (đối không chỉnh)nữa...
Khi xem qua [Thi pháp thơ Đường] của Quách Tấn, thì tác giả này liệt kê và phân tích hàng loạt các phép đối, nào là lục đối, bát đối, tám nội dung đối,tám hình thức đối... Nhưng cuối cùng, Quách Tấn quy tụ lại năm phép đối cơ bản gồm... chỉnh đối, tá tự đối, cú trung đối, tựu cú đối,và lưu thủy đối...
Sau khi đọc qua những thể loại đối thì tôi thấy,trong thơ có rất nhiều cách đối mà các cụ ngày xưa dùng,mỗi người có một phong cách riêng rất hay.
CÚ TRUNG ĐỐI (tiểu đối)
Cô vân , độc tiểu xuyên quang mộ
Vạn tỉnh , thiên sơn hải khí thâm
(Mây côi chim lẻ ánh sáng xuyên qua dòng sông chiều / Muôn giếng nghìn non biển khí dày đặc)
PHIẾN ĐỐI (cách cú đối): Câu thứ nhất đối với câu thứ ba, câu thứ hai đối với câu thứ tư
Tiền niên gia thuỷ đông
Hồi thủ tịch dương lệ
Khứ niên gia thuỷ tây
Thấp diện xuân võ tuế
(Năm trước nhà ở phía đông sông
Quay đầu bóng chiều đẹp
Năm ngoái nhà ở phía tây sông
Ướt mặt mưa xuân dịu)
dạng đối này thường dùng trong ngũ ngôn và tứ tuyệt ,thất ngôn,còn thất ngôn bát cú thì ít dùng.
LƯU THUỶ ĐỐI: Ý trong hai vế đi liền một hơi như nước chảy
Lũ lương tâm thượng sự
Tương dữ mộng trung lân
(Hằng đem việc bên lòng
Bàn cùng người trong mộng)
hay:
Còn chăng lời hẹn bên trang sách.
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.
Nhìn vào hai câu trên ta sẽ thấy bất đối,nhưng ý của câu trên trôi chảy,tràn xuống câu dưới làm trọn nghĩa cho câu trên....đó là lưu thuỷ đối.
Thường thì những chữ đầu câu là "còn chăng" thì câu dưới sẽ là "hay đã", hoặc câu trên đầu câu là "Bỗng dưng" thì câu dưới đầu câu là "Để mà."..v.v là cách chơi LƯU THỦY ĐỐI.
GIAO CỔ ĐỐI (đối tréo cẳng ngỗng)
Địch lư tranh lợi thiệp
Lai vãng tiếp phong trào
(Thuyền bè tranh nhau trước
Qua lại tiếp gió sóng)
Địch lư đối với phong trào; lợi thiệp đối với lai vãng
HAY:
Chân bước vững đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp trúc vươn cao
[trong TỰ NHỦ ,TRẦN TUẤN NGỌC]
chân bước vững đối chéo xuống với trúc vươn cao và rừng cây rậm rạp đối với đường chiều khấp khểnh...đó là giao cổ đối.
TÁ TỰ ĐỐI (đối tiếng, đối bóng)
Quyển liêm huỳnh diệp lạc
Khai hộ tử qui đề
(Cuốn rèm lá vàng rụng
Mở cửa tiếng cuốc kêu)
Tử (trong tử qui) đồng âm cùng tử là màu tím, nên mượn tiếng để đối với huỳnh là vàng (huỳnh điệp). Trong thơ Lục bát chúng ta thường thấy và gặp tá tự đối nhiều hơn...
hay:
Nghèo sạch thanh danh nên gắng giữ.
Giàu sang khó tính chớ nên chơi.
Câu trên,thanh danh là danh từ,câu dưới khó tính là tính từ, vậy xét như thế là bất đối....Nhưng...nếu ta không theo nghĩa thật mà theo tiếng thì ,chữ khó và chữ thanh là tính từ,chữ danh và chữ tính lại là danh từ...nhận xét theo khía cạnh này thì chúng ta sẽ thấy hai chữ kia đối với nhau rất chặt chẽ...cách đối này là sự lợi dụng tiếng việt,lợi dụng sự đồng âm đa nghĩa để đối...như TÚ XƯƠNG có câu thế này nghe rất hay:
Hai mái trống tung đành chịu dột.
Tám giờ chuông điểm phải nằm co.
(TÚ XƯƠNG)
Tá tự kết hợp với số tự đối.
Học bảy nghề còn lo thất nghiệp
Làm tam [ba]vụ vẫn đói tư mùa.
Đây là sự kết hợp tá tự và số tự để đối,và có cả cách chơi chữ rất hay.
Giá như không vì luật bằng trắc thì sẽ là ..làm tư vụ vẫn đói tứ mùa...thì sẽ hay và sẽ là tuyệt diệu...
Ngay cả nơi đây,THI ĐÀN VIỆT NAM này, cũng có một tay thơ mà lúc đầu tôi rất thích,vì thơ anh ta hay và mượt lắm,nhưng khi bê nguyên cả câu từ chấm phẩy của thiên hạ về đây để bình giảng cánh làm thơ luật dường và rập khuôn các diễn đàn khác về nhận xét hai câu trên,thì thì bó tay,không biết những bài tôi đọc của anh ta,có phải do anh ấy viết không nữa...?
Quay lại vấn đề trên...làm tam vụ vẫn đói tư mùa.
đấy mới là phần đặc sắc,bởi vì VIỆT NAM ta từ xưa cho đến tận bây giờ nói về nông vụ là trồng lúa,chỉ có hai vụ lúa là đông xuân và hè thu,còn khoảng trống là nông nhàn,nông dân tận dụng khoảng trống để trồng vụ thứ ba là vụ màu,trồng ngô[bắp] khoai hoa màu ..v.v bởi vậy trong nông vụ mới nói là hai lúa một màu.
tác giả viết như thế đúng theo thực tế,theo nông vụ...người ta chỉ làm có hai vụ trong khi nhân vật trong thơ phải làm quanh năm ,làm đến ba vụ...theo tôi đây mới là tuyệt trong tuyệt...chứ không công nhận những lời phê vớ vẩn,thiếu hiểu biết kia là ,làm tư vụ ,đói tứ mùa...nếu không phạm luật bằng trắc thì tư vụ,tứ mùa ấy cũng chẳng hay ho gì.
Tôi  xin tiếp tục.
TỰ CÚ ĐỐI (đương đối): đương là vừa cân xứng, chữ đồng loại này nhóm trong câu này đối lại với chữ đồng loại kia trong nhóm kia trong câu được cân xứng một cách vừa phải.
Bạch thủ đơn tâm y tử cấm
Nhất huy ngũ bộ tịnh tam biên
(Đầu bạc lòng son nương cung tía
Một lần vung bút trong khoảng năm bước dẹp yên được ba phương)
Lấy nhất, ngũ, tam đối với bạch, đơn, tử
BẤT ĐỐI CHI ĐỐI (trên mặt chữ thì không đối, nhưng ý vẫn đối nhau)
Bất tác tân phong tuý
Kỳ như quyện thể hà?
(Chẳng làm kẻ say trong cơn gió sớm
Thì làm sao cho ra tấm thân đã mỏi mệt)
hay:
Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ.
Xưa nay chinh chiến mấy ai về
đây là câu đối mà quan tổng trấn NGUYỄN VĂN THÀNH sai treo lên khi làm lễ tế(TRẬN VONG TƯỚNG SỸ)
câu trên lấy trong HOÀNG HẠC LÂU,câu dưới lấy trong LƯƠNG CHÂU TỪ..cái hay là lấy hai câu thơ trong hai tác phẩm và hai tác giả khác nhau,mà ý vẫn hoà chung.một của THÔI HIỆU hai của VƯƠNG HÀN.
câu một cảm thán tình cảnh,câu hai thì an ủi vong linh...quả là hợi với tình cảnh trong tế dàn (TRẬN VONG TƯỚNG SỸ)
lấy cái không đối để đối,đó là bất đối chi đối...không cần phải lệ thuộc vào chữ,mà dùng ý để đối...cấu trúc từ ngữ,ngữ pháp phải song song và đồng dạng với nhau.
Có nhiều luồng ý kiến cho rằng đây là các phép đối phá cách...? Nhưng cứ căn cứ vào lịch sử thơ Đường,luật Đường thì sẽ thấy rõ các phép đối này không hề là phép đối phá cách, mà hoàn toàn là chính cách... Bởi chúng xuất hiện cả trong Cổ thi trước thời Đường, trong thời Đường và sau thời Đường. Chúng sinh ra trước cả thể loại văn biền ngẫu(PHÚ)mà thơ luật đường đi ra từ phú về luật và đối...Chúng là [đàn anh đàn chị,có khi là chú bác] của văn biền ngẫu. Và ngay cả khi xuất hiện lối văn biền ngẫu rồi, thì các phép đối này vẫn tiếp tục tồn tại và vẫn được duy trì sử dụng trong suốt lịch sử dòng thơ Đường , bao gồm cả thơ luật đường.
nhân đây tôi cũng xin nói thẳng rằng, tôi đã từng hỏi các bậc tông sư,cao nhân tiền bối và tìm kiếm ,đọc qua rất nhiều sách...Nhưng tôi chưa nghe và thấy sách nào nói rằng đối không chỉnh thì không phải thơ Đường luật...!!! Ngược lại, lý thuyết căn bản môn thơ Đường luật ghi rõ ràng rằng ngoài CHỈNH ĐỐI, còn có KHOAN ĐỐI (đối không chỉnh).
Theo ngu ý của tôi thì,khi chúng ta muốn đánh giá một bài thơ luật đường thì phải theo tiêu chí đề ra của luật thơ nói riêng và nghệ thuật làm thơ nói chung, chứ không riêng gì đối. theo chúng ta đã biết thì riêng cách đối cũng có dăm bảy kiểu đối,chứ không riêng gì chỉnh đối...?!
bởi thế khi đã chơi thơ Đường luật thì cần hiểu rõ ngoài công đối [chỉnh đối] ra còn có khoan đối [đối không chỉnh]
Như lúc trước khi giảng cho tôi về thơ, Thầy của tôi đã nói và những bậc cao nhân tiền bối cũng nói như thế này:Nếu ta chưa thông thạo về các phép đối,thì hãy cứ nên dùng chỉnh đối,lưu thuỷ đối và tiểu đối...còn những dạng đối khác từ từ tham khảo và học sau để bổ trợ cho nguồn kiến thức của ta để từ đó nhận biết được những trường phái và sở thích của mỗi người... 
Tôi đáng lẽ cũng chẳng muốn viết ra làm gì,vì nơi đây cao thủ tào lao quá nhiều,nhưng các thi hữu chơi thơ theo đúng nghĩa thì lại không ít bởi vậy lãng đành mạo muội viết ra,để chúng ta cùng nhìn nhận,và bổ trợ cho nhau.
DIZIKIMI sưu tầm bài viết của
LÃNG TỬ SẦU

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017



Câu chuyện tình của chàng trai 28 tuổi tới Bắc Minahasa, Indonesia kết hôn với người phụ nữ 82 tuổi đang làm xôn xao dư luận nước này.

Cặp đôi này chính thức nên duyên vợ chồng vào ngày 18/2 vừa qua và thông tin về đám cưới nhanh chóng gây 'bão' trên các mạng xã hội sau khi được đăng tải.
Theo Harian Metro, chàng trai trẻ Sofian Loho Dandel đang làm việc tại một công xưởng. Anh kể rằng đã gặp vợ mình, bà Martha Potu, khoảng 1 năm trước, khi bà gọi nhầm vào điện thoại của anh.
Chú rể kể: "Một năm trước, tôi nhận được cuộc điện thoại từ số lạ, tôi trả lời và chúng tôi làm quen. Kể từ đó, chúng tôi giữ liên lạc mà tôi không biết tuổi của cô ấy".
"Tôi chưa từng hẹn hò ai và tôi nghĩ mình đã yêu", Sofian chia sẻ thêm.
Vì tình yêu, chàng trai vượt 120km để thăm người yêu ở phía Nam Minahasa và khi nhìn thấy Potu, Dandel choáng váng vì không nghĩ 'cô ấy già như vậy'. "Nhưng chúng tôi thực sự yêu nhau và quyết định tiếp tục mối quan hệ này", Dandel tuyên bố.
Sau vài tháng gặp gỡ, họ quyết định làm đám cưới bất chấp sự phản đối từ cả 2 bên gia đình, đặc biệt là gia đình bà Martha. Mẹ chồng cô dâu, 60 tuổi tỏ ra kinh ngạc khi biết tuổi vợ sắp cưới của con trai mình.

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

NGUYỄN BÍNH -NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI
Tiểu luận của Trần Mạnh Hảo
( Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Bính 20-1-1996)

Nhân một buổi hội thảo thơ 1932-1945, một độc giả hỏi : “ Nếu cần phải chọn một câu thơ hay nhất để đại diện cho Thơ Mới ( thơ tiền chiến) , ông sẽ chọn câu thơ của ai ?”. Không do dự, tôi trả lời : “ Tôi xin chọn câu lục bát : “ Anh đi đấy, anh về đâu / Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm !” của Nguyễn Bính”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một bài cho nền thơ ấy, ông chọn bài nào ?”. Trả lời : “ Tôi chọn bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một tập hay nhất của nền thơ ấy, ông chọn tập nào?” . Trả lời : “Tôi chọn tập “ Lửa thiêng” của nhà thơ quê Hà Tĩnh Huy Cận”. Lại hỏi : “nếu phải chọn một đời thơ tiêu biểu nhất của nền thơ ấy, ông chọn ai ?”. Tôi trả lời : “ Tôi chọn Nguyễn Bính !”.
Vâng, Nguyễn Bính, nhà thơ bị giời đầy : “ Mình tôi giời bắt làm thi sĩ !” Câu thơ ông viết từ những năm đầu của thập kỷ 40 đã vận vào ông : “Chung lưng làm một chuyến đi đầy”. Thậm chí ông còn nhắc con gái sau này : “Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm con ơi bạc lắm con”.
Có lẽ, trong thơ tiền chiến, Hàn Mặc tử và Nguyễn Bính là hai nhà thơ có số phận ít được vận may chiếu cố. Hàn Mặc tử bị trăng hành. Còn Nguyễn Bính bị con bướm Trang Chu hành tới bến. Nếu Thế Lữ được biểu tượng thơ là con hổ, Lưu Trọng Lư là con nai, Chế Lan Viên là con ma Hời, Xuân Diệu là con chim ngứa cổ hót chơi…thì con bướm là biểu tượng cho thơ Nguyễn Bính :

“ Có ai điên dại như tôi nhỉ

Nuôi bướm làm con để nhớ người”
Hay :
“ Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này”…
Trong thơ ông, bươm bướm bay nhiều quá, rượu và hoa nhiều quá, nhiều quá những cô gái đẹp chưa chồng. Nhưng bướm đã bay đi, rượu đã nhạt, hoa đã tàn, trinh nữ đã theo chồng hoặc đã chết, chỉ còn mình nhà thơ ngồi lại với phũ phàng và điên đảo :
“Mưa chiều nắng sớm người ta bảo
Cả đến ông giời cũng đổi thay” ( Giời mưa ở Huế)
Tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, khi mới 24 tuổi, Nguyễn Bính đã viết được những câu thơ hay đến kinh hãi về nỗi buồn, nỗi cô đơn của kẻ lạc loài, của nỗi oán hận suồng sã phải thất tình thay cho con ong cái bướm :
“Uống say cười vỡ ba căn gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông” ( Xuân tha hương)
Cùng “cái chung tình” ấy, nhà thơ hầu như đã ném tuổi trẻ mình xuống đáy sông của định mệnh, theo kiểu Thúy Kiều ném 15 năm lưu lạc xuống đáy Tiền Đường .
Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ tấm bé. Ta hiểu vì sao nỗi bơ vơ ám ảnh suốt đời ông. Ta hiểu ngay từ lúc mới 13 tuổi, làm bài thơ đầu, ông đã thèm yêu, thèm sống, thèm khát ràng buộc với tất cả và chia tay tất cả. Ông đã vịn vào chuồn chuồn bươm bướm tập đi như vịn chính vào niềm hư vô của kiếp người. Theo Hoài Thanh, Nguyễn Bính chưa hề được đến trường ! ( Giống văn hào M. Goocki của Nga ?). Ông tự học theo người cha và người cậu. Thầy của ông là chim muông cỏ rả làng Thiện Vịnh xa xôi. Tuy nhiên, mọi thứ nào thay thế được mẹ ông.

Nguyễn Bính mồ côi mẹ nên đã mồ côi cả đất trời. Hình như ông đã lớn lên bằng cảm giác của Trần Tử Ngang - người đi dọc thơ Đường : “ Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả …( Trước không thấy người trước / Sau chẳng thấy người sau). Cảm giác ngồi một mình bơ vơ trên trái đất của Trần tiên sinh xưa không chỉ được Nguyễn Bính chia xẻ, mà đã thành phận số đời ông. Năm 1937, khi mới 19 tuổi, nhà thơ đã viết một bài thơ tuyệt vời “ Những bóng người trên sân ga” với tận cùng cô đơn kiếp người hay đến mức không còn có thể hay hơn nữa :

“ Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly”
Câu thơ viết ra gần 60 năm rồi, đã sống và chết theo bao lớp người, theo bao trang giấy, qua bao nhiêu trào lưu hiện thực siêu thực, hiện sinh rồi cấu trúc, có vần với không vần, lạ thay, chưa có một ai nói về nỗi cô đơn kiếp người hay bằng câu thơ này của thần thơ Nguyễn Bính ? Hóa ra, cái hình ảnh giản dị và xúc động tận cùng kia, cái dáng người một mình đưa tiễn bóng mình kia, cho đến muôn đời vẫn cứ còn mới mãi, thấm thía và rung cảm mãi.
Nguyễn Bính với cảm quan thiên phú, một trực giác của thảo mộc chim muông, đã biết cách tiễn mình đi vào thi ca bằng lối đi của con bướm dưới gốc hòe Trang tử ! Cái dáng “Chân bước hững hờ theo bóng lẻ” kia không biết mình đang tiễn bóng hay bóng đang tiễn mình ? Với triết học bản thể, câu thơ “ một mình làm cả cuộc phân ly” không chỉ là biểu tượng sinh động, kỳ vĩ, mà còn là một khơi gợi, một phát hiện tâm linh trong hình trình nhập thể nhân loại. Chúng tôi tin rằng, câu thơ này của Nguyễn Bính còn theo ta tới cuối cuộc đời, đến nơi ta chia ly chính bản thân mình để vào vô tận.Viết được những câu thơ có thể sánh với bất cứ thơ Tây Tầu nào hay nhất, ai bảo thơ Nguyễn Bính không hiện đại ?
Thế mà từ năm 1941, năm ra đời cuốn “Thi nhân Việt Nam”của Hoài Thanh, đã có khá nhiều bài viết, nhiều khảo luận về thơ, khi nói về Nguyễn Bính, đều ăn theo lối kết luận phiến diện của Hoài Thanh Hoài Chân cho Nguyễn Bính là thơ nhà quê, chân quê, đồng quê, quê mùa…
Nói về Nguyễn Bính theo trường phái Hoài Thanh mới chỉ nhìn nhà thơ ở phần nổi, phần xác chữ nghĩa mà chưa đủ tầm đi sâu vào hồn thơ rất cổ điển, lại rất hiện đại của Nguyễn Bính làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, Nam Định kia ( huyện Vụ Bản còn là quê hương của một thiên tài thi nhạc khác đồng thời với Nguyễn Bính là Văn Cao)
Nguyễn Bính đi tận cùng dân tộc để thành hiện đại : thơ ông phần xác còn mang nâu sồng ca dao nhưng phần hồn đã vươn tới cõi hiện đại vô cùng nhân loại vậy ! Chúng tôi không muốn nói đến “chủ nghĩa hiện đại” phương Tây mà Việt Nam hầu như không có, nên không coi tính hiện đại của thơ chỉ lụy vào con chữ, vào cái bí hiểm cung quăng không thể hiểu, vào cái siêu thực nằm ngoài cảm nhận, mà chỉ đánh giá thơ qua cái sự hay, sự xúc cảm của nó, của nghĩa bóng thơ luôn cất cánh từ nghĩa đen như những câu thơ hay của thi hào Nguyễn Bính mà thôi !
Cho nên, với chúng tôi, hiện đại hay không hiện đại cốt ở hồn thơ, ở nỗi cảm nỗi hay của nó mà thôi. Những câu ca dao và thơ cổ hay nhất của văn học cha ông ta ai bảo không hiện đại nào ? “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” của ca dao hiện đại quá đi chứ ? “ Có thì có tự mảy may / Không thì cả thế gian này cũng không” của thơ Lý Trần hiện đại quá đi chứ ? “ Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” của Ôn Như hầu hiện đại quá đi chứ ? “ Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao” của Nguyễn Du hiện đại quá đi chứ ? “ Hoa thì hay héo cỏ thường tươi” của Nguyễn Trãi hiện đại quá đi chứ ? “ Hồn cô cát bụi kinh thành / Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe” của Nguyễn Bính hiện đại quá đi chứ ?
Hầu hết thơ Nguyễn Bính dưới cái vỏ chân quê giản dị hiền lành như ca dao, nhưng giấu ẩn sức nghĩ, sức cảm, sức gợi vô cùng tận, hiện đại vì nó hay ở mọi lúc mọi thời. Viết về cái đẹp của sự trống vắng, gợi ra, vẽ ra được cái vẻ tôn giáo của hư vô tồn tại ngay trong lòng cái hữu hạn, phỏng có nhà thơ tiền chiến qua mặt được câu thơ này của Nguyễn Bính :
“Giếng thơi mưa ngập nước tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”
Nỗi trống vắng vô chủ của ba gian nhà trong câu thơ, đã được xúc cảm đẩy từ cái cụ thể thành cái vô biên : nỗi trống vắng và vô chủ của đất trời. Mượn nỗi hoang vu bé mọn của nắng chiều trong căn nhà nhỏ để tả nỗi hoang vu vũ trụ, cũng là nỗi hoang vu muôn thuở hồn người, lục bát Nguyễn Bính hiện đại lắm ru !
Khi Nguyễn Bính tả nỗi cô đơn đến rêu mốc bí mật của kinh thành Huế, cũng để nói vế vẻ huy hoàng tàn phai, hay chính là hồn suông thi nhân mượn cả hoàng thành mà hiu quạnh :
“Thâm u một giải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi” ( Vài nét Huế)
Con én tân thời không nỡ bỏ cái hoang phế hoàng thành bay đi hay chính là cái níu kéo của hiện tại với quá khứ ? Cái chấm én mọc lên như một cái mầm, cái chồi của lẻ loi, khiến vẻ tàn phai càng tàn phai hơn nữa. Ngoảnh lại cố đô, con én thi ca mà Nguyễn Bính đính lên từ độ ấy, vẫn không đành đoạn bay đi, như thể loài chim thơ ấy vẫn còn là tình nhân bao thời đại đã đi qua !
Trí tuệ thơ Nguyễn Bính là trí tuệ sương mù, của hoa bướm của lửng lơ mây khói. Chất sang trọng hàn lâm giấu trong lục bát nâu sồng Nguyễn Bính như hồn sen giấu trong bùn, ghé mắt vào ta sẽ thấy hoa sen :
“ Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em”
“ Buồng hương bóng bóng mình mình
Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa”
Bên cạnh những bài lục bát nổi tiếng : “Tương tư”, “Lỡ bước sang ngang”, “Người hàng xóm”…ông còn những bài lục bát hiện đại khác : “”Lửa đò”, “ Vũng nước”, “ Qua nhà” và “Thời trước”…
Khi đánh giá thơ tiền chiến nói chung và Nguyễn Bính nói chung, người ta đã thừa nhận sự vượt trội của thơ lục bát Nguyễn Bính nhưng chưa thấy trong thể thơ bảy tám chữ, Nguyễn Bính cũng chẳng kém cạnh bất cứ thi nhân hàng đầu nào cùng thời với ông.Trong thể loại mượn cảnh tả tình, Nguyễn Bính đã có bài thơ vào hàng tuyệt tác là bài “Xuân về” có thể đứng ngang hàng với các bài hay nhất của Hàn Mặc tử và Huy Cận. Về thể hành, bài thơ “Hành phương Nam” của ông không hề hổ thẹn đứng bên cạnh bài tuyệt bút “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Viết về đất thần kinh xứ Huế, xưa nay chưa thấy bài nào hay bằng bài “Xóm Ngự viên” của Nguyễn Bính ? Ông đã làm sống lại thời vang bóng bằng câu thơ hay đến ma quái :
“ Sớm đào, trưa lý, đêm hồng phấn
Tuyết Hạnh, Sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên”
Hai câu này có thể ngang với câu vi diệu của Xuân Diệu :
“Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh” ( Nguyệt Cầm)
Hãy đọc lại hồn thơ bi hùng ngang trời lệch đất Nguyễn Bính như “ Giời mưa ở Huế”, “Xuân tha hương”, “Oan nghiệt”…ta thả mình vào nỗi quằn quại như mất cả hình hài, đau thương dữ dội và đồng bóng, để chia xẻ với nỗi vong thân, vong quốc của lớp thanh niên trước 1945. Những bài thơ “ Cô hái mơ”, “Trường huyện”, “ Hoa và rượu”…là những bài thơ đẹp nhất thơ tiền chiến của Nguyễn Bính. Đâu đây ta nghe có hơi Huy Cận trong hồn thơ “ một trời quan tái” Nguyễn Bính :
“ Chênh vênh bóng ngả sầu lau lách
Chiều ngái hương rừng lối nhạt son”
Cái hơi Đường thi từ Huy Cận đi lạc vào Nguyễn Bính rất sang trọng, quý phái : “ Áo bào nguyệt bạch ngựa kim ô” hay đấy, siêu đấy nhưng không phải mạch chính của thơ ông. Cái hơi, cái hồn, cái vía Nguyễn Bính là ở những câu thơ rất Việt rất hay như :
“ Một con diều giấy không ăn gió
Õng ẹo chao mình xuống vệ đê”
Có hàng trăm người viết về tơ liễu từ thơ Đường đến Nguyễn Du, nhưng chưa ai hay bằng Nguyễn Bính tả liễu :
“Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ”
Chỉ bằng từ “chảy”, Nguyễn Bính không chỉ hiện đại hóa thơ mình, ông còn làm mới cả hồn tơ liễu nghìn năm. Nguyễn Bính làm thơ rất bản năng, thậm chí như vô thức. Số lượng câu thơ hay của ông nhiều hơn bất cứ nhà thơ tiền chiến nào khác. Những câu thơ bất ngờ, hiện đại tới cùng này ai bảo Nguyễn Bính không mới :
“ Ở đây vô số những trời xanh”
Lối viết này Tây hơn cả Tây !
Hoặc quá ngạc nhiên khi ta đọc :
“ Xe ngựa chiều nay ngập thị thành
Chiều nay nàng bắt được trời xanh”
Hay :
“ Giời mờ ngao ngán một loài mây”
Xin lỗi, nếu ai trích được một câu của trường phái “tân con cóc” “ tân siêu thực” của Việt Nam hay ngang những câu này của Nguyễn Bính, tôi xin thưởng ba vạn chín nghìn con kiến,một trăm con voi !
Trong dòng thơ tiền chiến, chúng tôi bao giờ cũng biết cách tôn kính Thế Lữ, ngả mũ trước Xuân Diệu, thán phục Huy Cận, kinh ngạc trước Hàn Mặc tử, mơ mộng sầu thương cùng Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh…Nhưng chúng tôi bao giờ cũng dành cho Nguyễn Bính trọn niềm yêu mến, không chỉ là tấm lòng hậu sinh với bậc tiền bối, mà còn vì tình yêu của độc giả mấy chục năm trời với thơ ông.
Chỉ tính gần chục năm lại đây ( năm 1995 khi
tác giả viết bài này) theo thống kê tạm thời của một số nhà xuất bản, thơ Nguyễn Bính đã in và phát hành tới số kỷ lục hàng triệu bản. Qua bao thăng trầm, Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ số một được độc giả Việt Nam hâm mộ nhất sau Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi).
Ba mươi năm đã qua kể từ năm Nguyễn Bính mất buổi trưa ngày 30 tết ấy, có lẽ hình ảnh đọng lại trong mắt thi hào Nguyễn Bính là vườm thuốc nam nhà ông Tân Thanh hay một loài mây, hay loài bướm trắng nào vừa chìm xuống đáy ao trước khi ông bụng không hạt cơm ngã xuống trong hôn mê và trong cơn đói vĩnh cửu ? Chỉ biết rằng thi ca ông đã thành vị thuốc nam chữa lành nỗi đau và niềm hư vô kiếp người.
Ông không tìm lối xuyên tường đưa thơ Việt vào hiện đại như ai đó. Thơ ông thẩm thấu qua trời sương khói, qua hồn ca dao, qua Truyện Kiều đưa nâu sồng lục bát quê hương vào hiện đại. Xin đọc lại một câu thơ Nguyễn Bính :
“ Xót xa một buổi soi gương cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”
Ôi những mặt chữ điền bị thời gian xô lệch muôn năm cũ, xin về đây soi lại chiếc gương thi ca hiện đại muôn sau Nguyễn Bính.,.
Sài Gòn 28-12-1995
Trần Mạnh Hảo

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

MÙA XUÂN - MÙA RƯỢU VANG


Link cố định 29/01/2017@22h24, 401 lượt xem, viết bởi: nguyenlandung
Chuyên mục: Nhật ký
MÙA XUÂN- MÙA RƯỢU VANG

Bài đăng trên Tạp chí ĐỒ UỐNG số Tết



  Kết quả hình ảnh cho wine    


Kết quả hình ảnh cho white and red wine
Ly rượu vang mừng bạn đến thăm nhân ngày Xuân, vừa nhẹ nhàng, vừa nồng ấm. Mỗi dịp Xuân về nhà nhà đều sắm những chai rượu vang để đón khách. Tuỳ hoàn cảnh kinh tế mà người ta mua những chai rượu vang có giá tiền khác nhau, nhưng nói chung đều có độ rượu vừa phải và có màu sắc đẹp.

         Gọi là Vang vì tiếng Pháp là Vin, cây nho là Vigne. Nhà hiền triết Cổ Hy Lạp Socrtes từng viết:“ Rượu vang làm thấm ướt tâm hồn và ru niềm đau của ta vào giấc ngủ, đồng thời khua thức những cảm nghĩ dịu dàng.” Benjamin Franklin. Một trong những người tạo nên quốc gia Hoa Kỳ cho rằng: “ Rượu vang làm cho cuộc sống hằng ngày trở thành dễ dàng hơn, bớt vội vàng hấp tấp,ít căng thẳng và khoan dung, hoà nhã hơn”. Triết gia Cổ Hy Lạp Plato nhận xét:“ Thượng Đế không cho ta món quà nào đặc sắc và quý giá hơn Rượu vang”. Hoạ sĩ kiệt xuất Leonardo da Vinci xác định: “ Rượu vang là những giọt nắng đọng lại thành hương thơm, mật ngọt cho đời”. Ông còn có câu nói nổi tiếng: “Rượu vang là món quà của Thượng đế”. Để làm rượu vang người ta cho lên men trực tiếp nước ép nho và không qua quá trình chưng cất như đối với nhiều loại rượu khác. Tuỳ thuộc vào các giống nho khác nhau và các chủng nấm men khác nhau mà tạo thành các loại rượu vang khác nhau. Các dạng rượu vang nổi tiếng là kết quả của sự tương tác rất phức tạp giữa chất lượng của từng loại nho, các phản ứng liên quan đến quá trình lên men, cùng với sự can thiệp của con người trong quá trình sản xuất. Rượu vang có một lịch sử phong phú hàng ngàn năm, với việc sản xuất rượu vang sớm nhất cho đến nay được phát hiện đã xảy ra khoảng 6000 trước Công nguyên (TCN) ở Georgia. Bằng chứng khảo cổ đã khẳng định việc sản xuất sớm nhất được biết đến của rượu vang từ nho lên men trong quá trình hậu thời kỳ đồ đá mới hoặc đầu thời kỳ đồ đồng ở vùng Kavkaz và rìa phía bắc của Trung Đông. Một dự án lập bản đồ gen mở rộng năm 2006 đã phân tích nòi giống của hơn 110 giống nho hiện đại, và thu hẹp nguồn gốc của chúng vào một khu vực của Gruzia . Điều này phù hợp với các di tích khảo cổ được phát hiện sớm nhất có chứa những mảnh gốm màu rượu vang khoảng 6000 năm TCN ở Gruzia và khoảng 5000 TCN ở Iran. Các bình gốm tại khu vực tây bắc Iran đã cho thấy chúng được xử lý bằng nhựa thông, các hương liệu của retsina hiện đại . Khoảng 4500 TCN, việc sản xuất rượu vang đã được chuyển sang vùng Macedonia thuộc Hy Lạp cổ đại, các xưởng sản xuất rượu nho đầu tiênBAO GỒM các quá trình thu hồi và nghiền nát, và toàn bộ quá trình sản xuất rượu vang đã được phát hiện vào năm 2011 bên trong hang động Areni-1 ở Armenia, với niên đại khoảng 4100 TCN. Rượu vang Pháp bắt nguồn từ miền Nam nước Pháp vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên –thời La Mã đóng chiếm. Nghề trồng nho bắt đầu phát triển ở thành phố Marseille – thuộc địa của người La Mã. Đế Chế La Mã đã cho phép những vùng ở phía Nam nước Pháp sản xuất rượu. Thánh Martin de Tours (316 – 397) đã tham gia tích cực truyền bá đạo Cơ Đốc Giáo và nghề trồng nho. Trong suốt thời Trung Cổ loạn lạc, những thầy tu đã có công giữ gìn các ruộng nho và kỹ thuật làm rượu. Các tu viện có sự bảo hộ cao, nguồn lực lao động dồi dào để sản xuất rượu vang cho những dịp lễ và nhờ nó tăng thêm thu nhập đáng kể. Trong thời kỳ đó, những ruộng nho lớn thường thuộc về các nhà thờ thiên chúa giáo và rượu của họ luôn được coi là rượu cao cấp. Sau này, giới quý tộc mở rộng thêm diện tích trồng nho. Tuy nhiên, cuộc cách mạng Pháp đã lãnh đạo phong trào tịch thu bớt ruộng đất của nhà thờ, giới quý tộc chia cho nhân dân. Chính vì lý do này, sản lượng nho cũng tăng lên. Mặc dù thời đó Bordeaux đã xuất khẩu rượu nhưng mãi đến năm 1850 hầu hết rượu của Pháp vẫn chỉ phục vụ cho nhu cầu nội địa. Do sự phát triển của ngành đường sắt và đường bộ, chi phí vận chuyển giảm nhờ đó mà lượng rượu xuất khẩu cũng tăng lên đáng kể.
         Rượu nho có những mối liên hệ mật thiết với Thiên chúa giáo. Tại Do Thái , nơi phát sinh ra Thiên chúa giáo các vị tổ phụ của dân tộc này từ thời thượng cổ đã biết dung rượu vang để tế lễ Đức Chúa Trời. Về sau rượu vang không thể thiếu trong các thánh lễ misa của Thiên chúa giáo.

         Có tới trên 6000 loại nho nhưng chỉ có khoảng 6 loại nho được dung để sản xuất ra tới 90% các loại rượu vang trên thế giới (gồm 3 loại nho trắng và 3 loại nho đỏ). Ba loại nho trắng là Chardonay, Sauvignon blanc và Riesling. Ba loại nho đỏ là Cabernet Sauvignon, Merlot và Pinot noir.

Nước Pháp sử dụng hệ thống appellation để chỉ định nơi xuất xứ, phân ra bốn cấp độ chất lượng như sau:
  • Vin deTABLE (rượu vang thông thường): không chỉ định xuất xứ.
  • Vin de Pays (rượu vang địa phương): được phép chỉ định xuất xứ.
  • Vin Délimité de Qualité Superieure (rượu vang được xác định chất lượng cao): thường viết tắt là VDQS.
  • Appellation d’Origine Contrôlée (nhãn hiệu xuất xứ được kiểm soát): thường viết tắt là AOC, rượu vang được sản xuất và kiểm định theo những tiêu chuẩn khắt khe nhất.
Vang trắng có các mùi hương đặc trưng sau:
- Chardonnay: Hương hạnh nhân, dưa bở, chanh, bưởi, chuối.

- Chenin Blanc: Hương táo, hạnh nhân, quít.
- Các hương liệu của gia vị: Hương hoa trà, nhãn, bồ đề.

- Gruener Veltiner: Hương ớt Đà Lạt, hạt tiêu.
- Pinot Blanc: Hương lê, trà.

- Pinot Gris: Hương khoai tây, bánh mỳ, hạnh nhân cháy, mỡ lợn muối.
- Riesling: Hương anh đào, mơ, dưa bở, xăng.

- Sauvignon Blanc: Hương ớt Đà Lạt, cà chua xanh, phúc bồn tử đen, dâu.
- Welschriesling: Hương táo, hương keo.

Các mùi hương đặc trưng của vang đỏ là:
- Blauer Zweigelt: Hương đào, cẩm chướng.

- Blaufraenkisch: Hương ngũ da bì, anh đào, xạ hương, sôcôla đắng.
- Cabernet Franc: Hương dâu xanh, hạt tiêu xanh, nước ớt Đà Lạt, cỏ.

- Cabernet Sauvignon: Hương sơ ri, gỗ bá hương, tiêu Thuỵ Sỹ, cẩm chướng, bạch đàn.
- Merlot: Hương dâu, sơ ri, mận, xạ hương

- Pinot Noir: Hương ngũ da bì, mứt đào nhừ, mận, cẩm chướng.
- Pinotage: Hương anh đào chua, mận, chuối, tiêu, quế.

- Syrah (Shraz): Hương phúc bồn tử Thụy Sĩ, nấm củ, đồng thảo.
- Tempranillo: Hương dâu (quả mâm xôi), quất, gỗ đàn hương, xạ hương.

- Zinfandel: Phúc bồn tử Thụy Sĩ, nước mận, chuối, tiêu.
Pháp là nơi sản xuất rượu vang nổi tiếng từ xa xưa. Các vùng sản xuất vang nổi tiếng ở Pháp là Bordeaux, Bourgogne, Champagne, Loire, Rhône, Alsace,Cognac, một số vùng nhỏ ở Nam và Tây nam nước Pháp.

Còn có thể nói toàn nước Ý là cả một vườn nho lớn.  Có tới 20 vùng sản xuất rượu vang ở Ý nhưng quan trọng nhất là ba vùng: Piedmont (ở miền Tây Bắc), Veneto (ở miền Đông Bắc) và Tuscany (ở miền Trung).
Tây Ban Nha mỗi năm làm ra khoảng 2 tỷ gallons rượu vang ( khoảng 3785 triệu lít). Dân Tây Ban Nha trồng nho và làm rượu vang khắp dất nước nhưng nhiều nhất là ở miền Trung, nhất là các vùng gần thành phố Barcelona, Sherry.

Hoa Kỳ đứng thứ tư về sản lượng rượu vang (sau Pháp, Ý và Tây Ban Nha) . Người Mỹ mỗi năm dùng hết khoảng 2000 triệu lít rượu vang. Sản xuất rượu vang là một ngành công nghiệp phát đạt ở miền Bắc tiểu bang New York và vùng duyên hải California.
Nhiều nước khác cũng sản xuất rượu vang với sản lượng thấp hơn: Bồ Đào Nha, Đức, Australia, New Zealand, Chilê, Argentina.

Căn cứ vào phẩm chất và nồng độ cồn, nồn độ đường, mức độ sủi bọt mà người ta thường chia rượu vang thành các loại sau đây:
.Vang đỏ: làm từ nho đỏ nên có màu đỏ thẫm

.Vang hồng (Rosé): màu hồng đào do ngâm với vỏ nho chỉ vài giờ chứ không phải vài tuần lễ như vang đỏ.
.Vang trắng: làm từ nho màu xanh nhạt

. Champagne (Sâm banh): rượu vang sủi bọt, áp suất cao do lên men trong các chai thành dầy, khi mở nút có tiếng nổ và sủi bọt
.Rượu ngọt: hàm lượng đường khá cao. Có ba loại:

-Rượu đông đá (Ice wine): ép nho đông đá vào mùa đông, tạo loại rượu có độ cồn cao và ngọt đậm
-Rượu Sauternes: dùng nho có nấm Botrytis ký sinh, vị ngọt đậm đà.

-Rượu cao độ: độ cồn cao tới 17-18%, vị ngọt đậm (vang Madeira. Vang Port hay Porto)


 Hàng năm vào dịp Tết ta thấy xuất hiện khá nhiều loại rượu vang ngoại nhập (bên cạnh vang Việt Nam mang thương hiệu Vang Đà Lạt, Vang Thăng Long). Có những loại rượu vang ngoại giá từ 120 -500 nghìn đồng, nhưng cũng có những loại giá trên 1 triệu đồng 1 chai. Chẳng hạn các loại Sena Chadwick giá 3035 nghìn đồng, loại Chateau Batailley 2006 Pauillac giá 2320 nghìn, loại Norton Gernot Langes giá 2180 nghìn… Chúng ta nên tăng cường sử dụng vang nội để khuyến khích ngành rượu vang nho (Vang Đà Lạt) hay ngành rượu vang từ các hoa quả khác (Vang Thăng Long...) ngày càng phát triển với giá bán phù hợp với đông đảo dân chúng.


  Kết quả hình ảnh cho white and red wine


  Kết quả hình ảnh cho white and red wine


  Hình ảnh có liên quan